Việt Nam nhìn từ bảng xếp hạng môi trường thương mại
Báo
cáo nghiên cứu của WEF (trụ sở tại Thụy Sĩ) có tên là Môi trường Thương mại
Toàn cầu (Global Enabling Trade Report 2008), được thực hiện phối hợp với các
tổ chức nghiên cứu của các nước tham gia danh sách. Tại Việt Nam, Viện Quản lý
Kinh tế Trung ương và Viện Kinh tế TP. HCM là đối tác tham gia cuộc khảo sát.
Bản
báo cáo nêu rõ mục tiêu là phân tích các yếu tố có tác động đến môi trường
thương mại quốc tế của các nước, để mỗi nước có thể cải thiện chính sách và hội
nhập tốt hơn với nền kinh tế toàn cầu, từ đó đóng góp vào tăng trưởng và thịnh
vượng của quốc gia.
Trong
nhóm 10 nước và vùng lãnh thổ đứng đầu bảng xếp hạng, hai vị trí đầu tiên
thuộc về Hồng Kông và Singapore. Trong 6 vị trí tiếp theo, ngoại trừ Canada và
New Zealand thì các nước châu Âu chiếm hết các vị trí còn lại.
Việt
Nam ở đâu trong bảng xếp hạng?
Về
tổng quan, vị trí thứ 91 của Việt Nam trong số 118 quốc gia và vùng lãnh thổ là
một điều không đáng lạc quan. Trong các nước ASEAN thì chỉ duy nhất Campuchia đứng
thấp hơn Việt Nam. Nhưng cụ thể vì những yếu tố nào chúng ta bị xếp hạng thấp?
Bản
khảo sát phân tích 4 nhóm chỉ số phụ: tiếp cận thị trường, quản lý cửa
khẩu, hạ tầng giao thông - thông tin, và môi trường kinh doanh.
Trong
4 nhóm chỉ số phụ trên, điểm thấp nhất của Việt Nam là ở chỉ số “tiếp cận thị
trường” với vị trí xếp hạng 112/118. Riêng về hàng rào thuế quan và phi thuế
quan, Việt Nam xếp hạng 114. Đây là vị trí thấp nhất trong các nước ASEAN. Nếu
xét toàn bộ châu Á thì Việt Nam chỉ đứng trên được 2 nước Trung Á là
Uzbekistan và Cộng hòa Kyrgyz.
Việt
Nam cũng có những vị trí xếp hạng đáng lạc quan như chỉ số về an ninh (hạng
46); dịch vụ vận tải (hạng 48); hiệu quả của dịch vụ bưu điện (hạng 33); độ tin
cậy của dịch vụ cảnh sát (hạng 45); khả năng tiếp thu công nghệ ở cấp doanh nghiệp
(hạng 43)...
Những nghịch lý trong bản báo cáo
Có
những điểm tưởng như đối nghịch nhưng lại được WEF chỉ ra đối với Việt Nam. Thứ
nhất, trong khi hạ tầng giao thông và thông tin của Việt Nam bị xếp hạng thấp (100/118)
thì hiệu quả của dịch vụ vận tải lại đứng hạng khá cao (48/118).
Thứ
hai, trong khi Việt Nam đứng hạng khá cao về hiệu quả của thủ tục xuất nhập
khẩu (hạng 50/118), thì lại đứng hạng rất thấp về tính minh bạch trong quản lý
tại cửa khẩu (100/118), và thậm chí thấp hơn nữa (104/118) về các khoản chi được
gọi là “bất thường” trong xuất nhập khẩu.
Thứ
ba, trong khi Việt Nam đứng hạng khá cao về đa dạng hóa thị trường (hạng 47 về
tiếp cận theo bề rộng của thị trường quốc tế; hạng 49 về giao thương với khu vực),
tuy nhiên lại đứng rất thấp (100/118) về độ mở với luật lệ thương mại đa
phương.
Báo
cáo của WEF cũng nêu ra những điểm đánh lưu ý về mức độ đa dạng trong quan hệ
thương mại của Việt Nam. Theo số liệu năm 2006, trong tổng xuất khẩu của Việt
Nam thì có đến 18.3% xuất sang Mỹ, còn trong tổng nhập khẩu của Việt Nam thì có
gần 30% nhập từ Trung Quốc (gồm cả Đài Loan).
Thứ
tư, bảng khảo sát được dùng chung cho cả thế giới, nhưng riêng khi áp dụng vào
Việt Nam có hai tiêu chí được ghi là “không có thông tin”, đó là chỉ tiêu chí “dịch
vụ Hải quan” và “đường sá tắc nghẽn”. Trong khi đó, có lẽ đây là hai tiêu chí
được nhiều người đánh giá thấp. Nếu hai tiêu chí này được tính điểm, liệu vị
trí của Việt Nam có bị tụt xuống thấp hơn nữa?
Bảng
tóm tắt xếp hạng một số tiêu chí chính
|
Xếp hạng tổng thể
(trên 118 nước) |
91 |
|
Tiếp cận thị trường |
112 |
|
Hàng rào thuế
quan và phi thuế quan |
114 |
|
Xu hướng thương mại |
66 |
|
Quản lý tại cửa khẩu |
76 |
|
Hiệu quả của
Hải quan |
79 |
|
Hiệu quả của quy trình
xuất nhập khẩu |
50 |
|
Minh bạch về
quản lý tại cửa khẩu |
102 |
|
Hạ tầng giao thông và
thông tin |
75 |
|
Chất lượng hạ tầng
giao thông |
100 |
|
Chất lượng dịch
vụ giao thông |
48 |
|
Áp dụng công
nghệ thông tin |
71 |
|
Môi trường kinh doanh |
62 |
|
Môi trường chính sách |
83 |
|
An ninh vật chất |
46 |
Những nghịch lý lớn hơn ngoài bản báo cáo
Theo
báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, thâm hụt thương mại của
Việt Nam trong năm 2007 là 14,12 tỉ USD. Mức thâm hụt thương mại năm 2007 tăng
đến 70% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 48,56 tỉ USD và nhập khẩu lên
đến 62,68 tỉ USD.
Nếu
như khảo sát của WEF chỉ ra môi trường thương mại quốc tế của Việt Nam còn
thấp, thì con số thâm hụt thương mại của chúng ta lại quá cao, lên đến 20% so
với tổng thu nhập quốc dân.
Từ
đây có thể thấy hai giả thiết. Thứ nhất, những yếu kém trong thương mại quốc tế
có thể đã hạn chế khả năng xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, nếu hàng rào quan
thuế hạ thấp (tất yếu theo cam kết gia nhập WTO) thì nhập khẩu của Việt Nam có
thể còn cao hơn nữa và mức thâm hụt thương mại còn khó khắc phục.
Cũng
theo phân tích trong báo cáo của WEF, những nước như Việt Nam có bờ biển dài và
lợi thế hơn nhiều so với những nước không có biển (land-lock). Xếp hạng thấp
hơn Việt Nam, hầu hết là những nước bị bất lợi về vị trí như vậy. Phải chăng
nếu không phải vì vị trí địa lý, có thể nhiều nước trong số đó chưa chắc đã
thấp hơn Việt Nam trong bảng xếp hạng?
Bản báo cáo mới nhất này của WEF, cũng như những đánh giá xếp hạng khác, có thể không hoàn toàn chính xác, có thể không đưa Việt Nam vào vị trí đẹp. Tuy nhiên, đây là thêm một cơ hội nữa để chúng ta nhận thức được vị trí của mình trên thế giới, và từ đó xác định những chính sách để cải thiện vị trí.
Vietnamnet
Các tin khác
